Kiến thức

Chọn dầu động cơ

Bài này giới thiệu những nét chung trong việc lựa chọn dầu động cơ .

Chúng tôi không nêu ra thành nguyên tắc hoặc qui tắc song những điều nói  ra ở đây thiết nghĩ bạn đọc có thể tham khảo để cân nhắc trong các công việc cụ thể của mình .

Khi chọn dầu động cơ  phải xác định loại động cơ gì?

Phổ thông trong đời sống quanh ta là động cơ  xe máy, ô tô , nhưng hiểu rộng ra chúng ta còn có rất nhiều dạng động cơ  khác nhau :động cơ máy hơi nước, động cơ xăng, động cơ diêzen,  động cơ tuyêc bin phản lực, động cơ tuyêc bịn cánh quạt ,động cơ tuyêcbin khí,động cơ tuyêc bin nước,động cơ tuyêc bin hơi nước,động cơ tuyêc bin hơi , động cơ máy thuỷ,  động cơ trạm máy cố định ,động cơ mới, động cơ cũ, động cơ thiết kế thuộc các thế hệ trước đại chiến thế giới II, những năm 60,70,80, 90 ,những năm 2000 v.v... Liệt kê một số kiểu động cơ như trên để nói ra rằng lĩnh vực này rất phức tạp, phong phú, không thể đồng nhất mọi đối tượng mà cần xác định rõ , thật cụ thể

Thí dụ cũng là động cơ đốt trong nhưng các máy dùng cho hàng hải lại được phép sử dụng nhiên liệu có hàm lượng lưu huỳnh cao ,do đó lại phải dùng những dầu có phụ gia kiềm cao tói mức trị số kiềm tổng -TBN có thể lên tới hàng chục trong khi chỉ số TBN của các dầu động cơ mặt đất thường là dưới 10 . Những dầu ngành hàng không lại phải có khả năng làm việc ở nhiệt độ âm ( cỡ - 40OC, -50 OC ) đòi hỏi dùng dầu có nhiệt độ đông dặc rất thấp , những máy có dính dáng đến hơi nước lại phải dùng các loại dầu có khả năng khử nhũ cao .....

Để thu lại phạm vi của bài này chúng tôi chỉ nêu những điều có liên quan tới động cơ ô tô để làm ví dụ

Việc sử dụng dầu mỡ bôi trơn trước hết phải tuân theo chỉ dẫn của nhà sản xuất động cơ xe máy .Người sử dụng phải căn cứ vào catalog của nhà chế tạo xe máy . Là người thiết kế chế tạo  họ hiểu rõ sản phẩm của họ hơn bất kỳ ai và họ phải có trách nhiệm về mặt pháp lý với người tiêu dùng sản phẩm của họ mà một trong những thông tin mà nhà sản xuất cần cho người tiêu dùng biết là việc sử dụng dầu mỡ trong việc bôi trơn xe máy.

Người sản xuất xe máy phải chỉ ra độ nhớt và chất lượng của dầu động cơ cho xe máy mình làm ra ..

Trong việc lựa chọn dầu cần phải chọn độ nhớt thích hợp . Có dùng dầu tốt đến đâu mà chọn dầu sai về độ nhớt là điều không chấp nhận được

Độ nhớt thế nào là thích hợp cho xe máy . Thích hợp là không quá cao cũng không quá thấp ,

Độ nhớp thấp không đủ bôi trơn cho xe máy dẫn đến hiện tượng máy móc bị mài mòn , bôi trơn không đảm bảo có thể dẫn đến lột biện ,

Độ nhớt quá cao thì xe máy phải tốn một phần công suất  để khắc phục ma sát và trong một số trường hợp nếu độ nhớt cao quá thì việc truyền dẫn dầu để bôi trơn bị khó khăn , thậm chí ở những giai doạn khởi đông máy khôn g tạo được nêm dầu , xảy ra ma sát khô gây nên mài mòn .

Nhà sản xuất chỉ có thể chỉ ra độ nhớt cần có trong điều kiển hoạt động bình thường, thường xuyên của xe máy còn những trường hợp như xe đang thời kỳ chạy rà trơn , xe vừa trải qua đại tu hay xe dùng quá lâu thì người sử dụng phải có cách vận dụng thích hợp .Chẳng hạn xe mới phải trải qua giai đoạn chạy rà trơn lúc này khe hở xilanh pit tông là và giữa các bề mặt ma sát là rất nhỏ nên cần thiết dùng dầu có độ nhớt thấp hơn qui định một chút sao cho trong quá trình chạy ra trơn các mạt kim loại bị mài mòn dễ được phân tán vào dầu bôi trơn để rồi sẽ bị loại ra ở các bầu lọc,

Sau giai đoạn chạy rà ,người sử dụng phải dùng dầu theo đúng qui định của hãng sản xuất xe máy.

Trong trường hợp xe , máy đã dùng quá lâu các chi thiết ma sát đặc biệt là cặp pit tông- xy lanh đã bị mài mòn nhiều thì để bôi tron tốt , để tăng độ kín người ta lại phải dùng dầu có độ nhớt cao hơn qui định một chút . Dùng từ “một chút “ có nghĩa phiếm định, nghĩa là người chủ xe máy phải căn cứ vào điều kiện cụ thể mà gia tăng độ nhớt cho thích hợp  bằng cách trộn dầu có độ nhớt thấp và dầu có độ nhớt cao theo một tỷ lệ nào đó.

Độ nhớt thích hợp còn có ý nghĩa  là nó phải được chọn thích hợp với nhiệt độ  của môi trường . Khi xe máy làm việc dầu nóng lên đến một độ nào đó do nhiệt ma sát của máy và do nhiệt cháy nóng của nhiên liệu ; Người ta dùng dầu với tư cách là chất bôi trơn vừa là chất tải nhiệt đưa nhiệt ra bộ làm mát bằng khí , bằng nước và bằng quạt gió tất cả những diểm đó dẫn đến dầu đạt tới một nhiệt độ cân bằng tương đối nào nó  tùy theo điều kiện cụ thể kể cả nhiệt độ môi trường . Nhiệt độ này được phản ảnh ở đồng hồ nhiệt độ Giá trị này cho ta một chỉ dẫn tương đối về điều kiện nhiệt khi dầu làm việc trong động cơ tuy vậy nó không phải như nhau ở mọi thời điểm , mọi vị trí . Để tiện cho việc chỉ dẫn sử dụng dầu người ta lấy gốc nhiệt độ ở 100OC và đưa ra chỉ tiêu về độ nhớt cửa dầu động cơ ở nhiệt độ đó. Vậy độ nhớt ở 100OC phần nào phản ánh được độ nhớt của dầu trong điều kiện chạy máy,

Khi xe máy không làm việc nhiệt độ của dầu động cơ đi đén cân bằng với nhiệt độ môi trường . Điều này cũng có thể hiểu một cách giản đơn là lúc khởi động xe máy

dầu bôi trơn có độ nhớt cao hơn khi xe máy đang làm việc .Nhiệt độ môi trường bên ngoài tùy từng khu vực , từng mùa rất là khác nhau để có mốc nhiệt độ để so sánh người ta thừa nhận  lấy độ nhớt của dầu ở 40OC ( tức là 100OF) . Độ nhớt  của dầu ở 40OC và ở 100OC có thể khác nhau 8-10 lần có nghĩa là chỉ riêng về độ nhớt thoooi cũng có thể thấy điều kiện bôi trơn của dầu động cơ là rất khác nhau .Vì vậy :

Người ta lấy độ nhớt của dầu ở 100 OC làm cơ sở để lựa chọn dầu động cơ và lưu ý người sử dụng phải xét đến mặt nhiệt độ của môi trường . Trong khi đó với những dầu khác như dầu công nghiệp công nghiệp, dầu thủy lực thì chỉ cần  lấy  gốc độ nhớt ở 40OC vì sự thay đổi nhiệt độ của dầu khi làm việc không khác nhiều lắm với nhiệt độ môi trường ngoài.

Trong quá trình bôi trơn xe ,máy nhiệt độ dầu có hai khuynh hướng là nóng lên do ma sát

và do tiếp xúc với nhiệt của động cơ (nhiên liệu cháy sinh ra) và khuynh hướng nguội đi do  môi trường bên ngoài mà người ta tìm cách làm mát bằng nước, bằng không khí .

Biên độ và tần số của sự dao động nhiệt độ dó tùy vào điều kiện hoạt động của máy móc, diều kiện thiết kế chế tạo mà diễn biến phức tạp. Một giá trị độ nhớt có thể thích hợp với bôi trơn ở nhiệt độ này nhưng lại không thích hợp cho việc bôi trơn ở nhiệt độ khác .

Nếu sự chênh lệch về độ nhớt theo nhiệt độ là quá nhiều thì việc bôi trơn sẽ không tốt

Để có thể đánh giá  tính thay đổi của độ nhớt của dầu theo nhiêt độ người ta đưa ra khái niệm về chỉ số độ nhớt . Một thứ dầu có chỉ số độ nhớt càng cao thì độ nhớt thay đổi ít khi nhiệt độ thay đổi .Để có thể đo và tính được chỉ số độ nhớt của dầu người ta đo độ nhớt của dầu ở 100 OC và ở 40OC rồi qua một số phép tính và tra bảng người ta tìm ra được chỉ số độ nhớt . Việc tính toán qua máy tính  chỉ mất vài giây song nếu làm thủ công thì phải mất ít nhất 30 phút . Để có một sự đánh giá tương đối về sự thay đổi của độ nhớt của dầu theo nhiệt độ chúng ta có thể lấy tỉ số độ nhớt của dầu ở 40OC so với độ nhớt của dầu đó ở 100OC .Các dầu có nguồn gốc dầu thực vật dầu tổng hợp thường có chỉ số độ nhớt cao . Để cải thiện tính nhiệt -nhớt của dầu hay nói cách khác là để nâng cao chỉ số nhớt của dầu người ta sử dụng phụ gia .

Như vậy riêng về mặt bôi trơn đối với dầu động cơ người ta cần xét hay chỉ tiêu là độ nhớt ở 100OC và chỉ số độ nhớt với khuyến cáo là chỉ số độ nhớt càng cao ,càng gần với 100 thì dầu bôi trơn càng tốt,

Để bôi trơn được dầu phải đáp ứng được về độ nhớt song để dầu làm việc được tốt m được lâu ( dầu có tuổi thọ cao) thì dầu phải  thỏa mãn các yêu cầu về chức năng của mình nghĩa là  dầu phải có chất lượng cao

Một dầu động cơ kém chất lượng có thể phát sinh các vấn đề như sau :

1.Độ nhớt bị thay đổi (có thể tăng hoặc giảm) trong quá trính sử dụng mà chủ yếu hay xảy ra  là hiện tượng dầu bị giảm độ nhớt do bị giảm độ nhớt do  phần nặng không đốt cháy hết của nhiên liệu  trộn lẫn vào dầu, do quá trình cracking dầu xảy ra ở những chỗ nhiệt độ cao ( thành xi lanh. pit tông, mặt pít tông ) và sự có mặt của xúc tác mà trong một vài trường hợp lại chính là phụ gia  .

2 Trong quá trình làm việc ở động cơ đốt trong , dầu nhờn còn có mặt cả ở bên trong buồng đốt , tiếp xúc với khí cháy và bị cháy phần nào nên sinh ra tro,cặn than , các chất này theo dầu đi tới các mặt ma sát  gây tác dụng mài mòn đối với các bề mặt ma sát

3.Trong quá trình làm viêc bị  đốt nóng lại tiệp xúc với oxy nên dầu bị o xi hóa tạo ra các chất có tính a xit  hoặc dầu bị thâm nhập bởi các khí có tính a xít do nhiên liệu cháy mà có ( như khí SO2 , SO3) . Độ a xit của dầu tăng lên , độ kiềm của dầu giảm đi làm tăng khả năng ăn mòn đối với các  chi tiết kim loại mà nó tiếp xúc,

3.Bản thân sự biến chất của dầu cộng với các cặn bẩn làm cho dầu bị vón cục gây nên sự tắc nghẽn các đường dẫn dầu, phá hoại sự bôi trợn

Tất cả các yếu tố có hại đó đều có thể được khắc phục bằng các chất phụ gia  như phụ gia tảy rửa làm cho các chất bẩn được rửa khỏi bề mặt ma sát như thành pít tông xy lanh, mặt quả nén , phụ gia phân tán làm cho các chất bẩn không bị vón thành cục

Nhờ có các phụ gia ta có các dầu  động cơ  có chất lượng khác nhau .

Trong sự tiến bộ về khoa học công nghệ chế tạo động cơ thì độ khắc nghiệt về điều kiện làm việc của dầu động cơ là theo khuynh hướng tăng lên ( tăng lên về công suất , tải trọng, vòng quay,...) cho nên nhu cầu đòi hỏi dầu có chất lượng cao càng nhiều hơn, lớn hơn . Điều này chỉ ra nhu cầu và động lực để hình thành các dầu mới chất lượng cao, điều náy cũng chỉ ra là nếu chỉ dùng các dầu chất lượng thấp là không thể được

Khác với các nước lạc hậu như Việt nam, ở các nước tiên tiến , vấn đề tiết kiệm thời gian đi liền với hiệu quả kinh tế vì thế người ta cần có những loại dầu chất lượng cao để kéo dài thời hạn thay dầu , giảm bớt thời giờ đưa xe máy vào nằm xưởng . Điều này cũng nói một điều ngược lại là nếu dùng dầu chất lượng thấp thì dầu dẽ biến chất , thời hạn thay dầu sẽ phải ngắn đi nêu như không muốn có sự trả giá là máy bị hỏng . Trong quá khứ chúng ta có thể thấy một số ví dụ về việc chọn dầu động cơ trong sự điều chỉnh về mối quan hệ “độ nhót - chất lượng “ như trường hợp người ta có thẻ dùng dầu MC-20 , MK-22 là những dầu có độ nhớt cao nhưng không có phụ gia để bôi trơn động cơ thay cho dầu động cơ xe tăng MT-16p là dầu có phụ gia đặc biệt . Phải chăng đây cũng là kiểu “lấy cần cù bù thông minh” Chúng tôi chỉ muốn nói rằng cần dùng dầu động cơ có độ nhớt thích hợp,dầu có chất lượng cao , không để động cơ chạy thiếu dầu . Nếu buộc phải dùng dầu chất lượng thấp thì chỉ là tạm thời , phải rút ngắn thời hạn thay dầu , phải theo dõi dầu chặt chẽ , tránh hậu quả đáng tiếc xảy ra

 

Công ty Huy Phát

tập trung phát triển những mặt hàng tiềm năng đang được khách hàng ưa chuộng như dầu thuỷ lực H32, H46, H68, dầu công nghiệp CN10, CN22, CN32, CN46, CN 68, CN100, Dầu gia công kim loại KL, Dầu bánh rãng HP-90EP, HP-140EP, Mỡ bôi trơn các loại...