Kiến thức

Tính thực dụng của các chỉ tiêu Lý Hóa

Mỗi một chỉ tiêu lý hóa của sản phẩm đều có ý nghĩa thực tế của nó, Có ý kiến hỏi tại sao với một loại sản phẩm thì công ty này hoặc nước này đưa ra 4 ,5 chỉ tiêu trong khi công ty khác nước khác lại đưa ra đến 9.. 10 chỉ tiêu. Tại sao lại có sự chênh lệch như vậy? Điều này thực ra chỉ là quan niệm mà thôi. Mỗi chỉ tiêu lý hóa đều có ý nghĩa riêng của nó nhưng công bố ra đến đâu , cái gì cho khách hàng lại do chính phía người sản xuất hoặc cơ quan tiêu chuẩn hóa của đất nước đó đưa ra. Vậy chúng ta hãy thử đi vào từng chỉ tiêu lý hóa để xét giá trị của nó khi đánh giá một sản phẩm. Và vấn đề chúng ta chỉ giới hạn đối với các chất bôi trơn.

1. Hình dạng bên ngoài mầu sắc của sản phẩm Chỉ tiêu này là một loại chỉ tiêu cảm quan nó có ý nghĩa một phần nào đó đối với dầu và nói được khá nhiều điều đối với mỡ , Dầu là chất lỏng đó là chuyện thường tình , Nhưng với mỡ lại lá chuyện khác , Có khi mỡ là chất rán khi là chất kỏng khi là một chất đặc ,chất quánh . Với mỡ này trông trong suốt như thạch nhưng mỡ khác lại đục mờ ,Có mỡ có dạng sợi có mỡ lại trông rời rạc . Vì thế mới có các tên rất dân gian nhu mỡ cứt trâu . mỡ cơm nguội ; Với mầu sắc của dầu chúng ta có khả năng suy đoán về cách tinh chế sản phẩm . Dầu tinh chế theo phương pháp a xit thường có mầu tối .ánh xanh còn dầu tinh chế bằng phương pháp chọn lọc thì có mấu sáng vàng , đỏ , cánh gián ....dầu biến thế thường không mầu trong suốt như nước lọc Với quan sát bề ngoài người ta đã có những phỏng đoán sơ bộ về môt sản phẩm.

2. Mùi Mùi sản phẩm đôi khi cũng cho chúng ta những chỉ dẫn thú vị, Người ta có thể nhận ra mùi dầu phanh khác với dầu thông thường .. Người ta có thể phân biệt rât nhanh sản phẩm có phụ gia EP và sản phẩm không có phụ gia EP bởi nùi đặc biệt của phụ gia này, Có khi người ta còn nhận thấy mùi khen khét của những sản phâm để lâu , bị o xi hóa ,

3. Tính hòa tan . Khả năng hòa tan cũng là một thuộc tính có thể tận dụng khi phân tích, đoán nhận một sản phẩm . Cùng là dầu phanh nhưng dầu phanh có gốc glycol lại dễ tan trong nước ,dầu phanh gốc dấu thầu dầu thì không, Trong chiến tranh chống Mỹ ,do vận chuyển xa, đường xấu mà nhãn mác trên thùng đựng mỡ thường bị nhạt nhòa , bong tróc . Làm thế nào để phân biệt mỡ YI và mỡ YC khi hàng mất nhãn . Nhờ xem xét tính tan mà dễ dàng phân biệt được mỡ YC và mỡ YT là hai dạng mỡ có nhiệt độ nhỏ giọt khác nhau hàng chục độ . Thế là chỉ trung vài giây chúng ta đã phân biệt hai loại mỡ mà chẳng phải cần có thiết bị đo nhiệt độ nhỏ giọt khó tìm kiếm , mất thời gian

4.Tỉ trong , khối lượng riêng

Với định nghĩa Tỉ trọng d theo công thức d= m : V trong mối tương quan giữa khối lượng m và thể tíchV . Ta thấy ngay ý nghĩa trong quan hệ buôn bán ,giao nhận hàng : Biết thể tích biết tỉ trọng thì tìm ra khối lượng hoăc biết khối lượng và biết tỉ trọng là biết được cần thể tích bao nhiêu để chứa đựng , Ngoài ra qua tỉ trọng chúng ta cũng có những chỉ dẫn thêm về sản phẩm : -Những sản phẩm có tỉ trọng lớn hơn 1 chắc chắn không phải thuộc nhóm dầu có nguồn gôc dầu mỏ, -Những sản phẩm đặc hơn , nhớt hơn thì có tỉ trọng lớn hơn

5.Độ nhớt và chỉ số độ nhớt

Độ nhớt của sản phẩm là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khă năng bôi trơn của sản phẩm , Đã nói đến dầu là phải nói đến độ nhớt của nó, Ngay cả nhiên liêu thì chỉ tiêu độ nhớt của một số nhiên liệu cũng có ý nghĩa quan trọng trong sử dụng , Những nhiên liệu như nhiên liệu máy bay phản lực, nhiên liệu diêzen, nhiên liệu đốt lò mà việc cấp nhiên liệu vào buồng đốt nhờ việc bơm phun thì độ nhớt của nhiên liệu là quan trọng lắm ,Độ nhớt thấp làm cho nhiên liệu có phun được xa như ý muốn và sự hòa trộn nhiên liệu vì vạy không tốt kết quả là sự đốt nhiên liệu không hoàn hảo, Trong chiến tranh , cả khi đã hòa bình có những lúc ta có thừa dầu hỏa lại không sẵn nhiên liệu diêzen thế là một cách làm rất thực tế và cũng có cơ sở khoa học là pha thêm dầu nhờn vào dầu hỏa làm cho độ nhớt tăng lên đến múc ta có thể dùng nó cho xe chạy dầu. Độ nhớt giảm xuống khi nhiệt độ tăng lên nghĩa là độ nhớt phụ thuộc vào nhiệt độ , i Nhiệt độ để xác định độ nhớt của một loại sản phẩm cần gần với nhiệt độ ở đó mà sản phẩm thường xuyên làm việc hoặc phải chịu đựng , Ví dụ với dầu hỏa phản lực phải đo ở nhiệt độ thông thường 20OC cũng phải đo độ nhớt ở những nhiệt độ âm vì máy bay lên cao đến 9-10 km nhiệt độ ngoài trời có thể giảm xuống -60 đến -70OC và còn thấp hơn thế .Với nhiên liệu diêzen người ta có thể lấy nhiệt độ đo nhớt ở 15 hoặc 20OC . Với các dầu công nghiệp và dầu thủy lực thì người ta lấy nhiệt độ ở 100OF hay 40OC là nhiệt độ chuẩn để đo độ nhớt vì khi làm việc ma sát chỉ đủ để cho chúng ấm lên . Với dầu động cơ do nó phải làm mát động cơ rất nóng khi làm việc , tiếp xúc với khí cháy, đi vào các rãnh khe trong buồng đốt mặt khác lại cần khởi động dễ dàng khi máy nguội lạnh nên nhiệt độ để xét độ nhớt là rất khác nhau :100OC và 40OC ( tương đương với 210OF và 100OF ). Chỉ thấy một dầu nào đó chỉ qui định đo độ nhớt ở 40OC thôi có thể đã suy đoán đó là dầu thủy lưc hoặc dầu công nghiệp còn dầu qui định đo độ nhớt ở cả 40 và 100 OC thì khá chắc chắn đó là dầu dùng cho động cơ , Độ nhớt của dầu phụ thuộc vào nhiệt độ đó là điều hiển nhiên song sự phụ thuộc đó nhiều hay ít phải qua khảo sát và tính toán , Bằng công cụ toán học người ta đã đưa ra một khái niệm là chỉ số độ nhớt VI , Theo các phương trình toán học và bảng tính dựa trên kết quả đo độ nhớt của dầu ở 100 OC và 40 OC ngưới ta có kết quả của chỉ số nhớt .Chỉ số nhớt-VI có ý nghĩa quan trọng trong thưc hành : Những dầu có độ nhớt ở 100OC như nhau nhưng dầu nào có chỉ số nhớt lớn hơn là dầu động cơ có tính bôi trơn tốt hơn vì độ nhớt của nó biến dổi it hơn so với dầu kia. khi nhiệt độ thay đổi . Vì thế mà chỉ nhìn vào VI mà người ta có thể nói dầu thực vật và dầu tổng hợp có tính nhiệt-nhớt tốt hơn dầu gốc dầu mỏ . Và khi so sánh hai dầu cùng có cấp độ nhớt như nhau ở 100OC thì người ta nên chọn dầu có VI cao hơn.

6. Nhiệt độ chớp cháy :
Đây cũng là chỉ tiêu quan trọng, có ý nghĩa thực dụng và hay được công bố đối với dầu nhờn Nhiệt độ này được dùng để đánh giá khả năng bị cháy của sản phẩm . Dùng một sản phẩm có nhiệt độ chớp cháy cao thì an toàn hơn và sản phẩm ít bị cháy tất nhiện làm việc ổn định lâu dài hơn sản phẩm dễ bị cháy , Nhưng tại sao phải xác định nhiệt độ chớp cháy mà không phải là nhiệt độ cháy của sản phẩm , Nhiệt độ chớp cháy là nhiệt độ ở đó sản phẩm bắt lửa và cháy nhưng chỉ cháy trong vòng dưới 5 giây mà thôi. Người ta thấy hiện tượng cháy rồi lại tắt khác gì một tia chớp bùng lên lại tắt ngấm nên có khái niệm chớp cháy Chỉ có ràng buộc điều kiện cháy dưới 5 giây thì việc định nghĩa được rõ ràng và việc xác định mới chính xác , Nhiệt độ cháy của sản phẩm là nhiệt độ tại đó mà gơi sản phẩm với không khí cháy ( mà không bị tắt ) , Nhiệt độ này tất nhiên là cao hơn nhiệt độ chớp cháy nhưng khi xác định nó thì kết quả thí nghiệm sẽ khó bình luận l Thêm vào đó người ta đưa ra khái niêm chớp cháy cốc hở và chớp cháy cốc kín cũng là gắn liền với thực tế là có khi sản phẩm bị cháy ở nơi hở cũng có khi bị cháy ở nơi đóng kín . Tuy nhiên việc vận dụng không hẳn máy móc như vậy , Nhiệt độ chớp cháy cốc hở thường cao hơn nhiệt độ chớp cháy cốc kín nhưng cần xác định theo kín hoặc hở tùy theo loại sản phẩm , Đa số sản phẩm dầu được xác định theo nhiệt độ chớp cháy cốc hở vì thiết bị đơn giản và dễ xác định , Chỉ một số sản phẩm thuộc loại dầu có độ nhớt thấp như dầu biến thế và các nhiên liệu như dầu hỏa,DO và FO là xác định nhiệt độ chớp cháy cốc kín mà thôi. Xăng thì cháy cả ở nhiệt độ âm do đó chẳng cần xác định ta cũng biết được nó rất dễ cháy , Giả sử ta cố tình xác định nhiệt độ chơp cháy cốc hở của chúng thì vẫn có kết quả nhưng các kết quả này kém ổn định vì khi gia nhiệt cac thành phần nhẹ rất dễ bị thất thoát ( vì hở ) nên khó thu được những kết quả lặp lại và ít sai khác . Vậy có thể hiểu là đối với nhiên liệu và các dạng dầu có độ nhớt thấp như dầu biến thế cần phải thí nghiệm cốc kín ,Các trường hợp khác thì chỉ cần đo nhiêt độ chớp cháy hở .Tuy nhiên xác định nhiệt độ chớp cháy cốc kín trong phòng thí nghiệm cũng có ưu điểm là gây ít ô nhiễm cho môi trường làm việc nên một số hãng dầu đối với các dầu mới cũng đưa ra việc xác định nhiệt độ chớp cháy kín thay cho nhiệt độ chớp cháy hở như ta nghĩ thông thường. Những người làm công tác nghiên cứu lại đo cả nhiệt độ chơp cháy kín lẫn nhiệt độ chớp cháy hở mà qua sự chênh lệch nhiệt đô chớp cháy giữa thiết bị kín và hở phát hiện ra những thành phần nhẹ hoặc nhiên liệu lẫn vào trong dầu có nhiều hay ít. Như vậy đo nhiệt độ chớp cháy theo các phương pháp khác nhau chúng ta thu được khá nhiều thông tin đối với một mẫu dầu, Các thông tin đó là khả năng cháy ,các thành phần nhẹ sự lẫn nhiên liệu vào dầu trong quá trình làm việc của đông cơ .

7.Độ tro và cặn các bon của sản phẩm

Trong sản phẩm không bao giờ có tro và cặn cacbon , Các chỉ tiêu này phản ảnh khả năng hình thành các sản phẩm tro và cặn cacbon trong quá trình bôi trơn . Trong động cơ có hiện tượng dầu bị cháy tạo ra những sản phẩm cháy với mức độ khác nhau :cháy thành tro và cháy thành than , cháy dang dở   Nếu dầu chỉ là các hydrocacbon đơn thuần , khi bị cháy hoàn toàn sẽ nhận được CO2 và nước - H2O Trong dầu nhờn thông thường , ngoài thành phần hữu cơ là chính còn có một lương rất nhỏ là các tạp chất vô cơ và những chất cơ-kim của phụ gia mà khi cháy tạo ra các oxit kim loại Trong dầu nhờn thông thường , ngoài thành phần hữu cơ là chính còn có một lương rất nhỏ là các tạp chất vô cơ và những chất cơ-kim của phụ gia mà khi cháy tạo ra các oxit kim loại Tro là sản phẩm vô cơ , là các o xit kim loại ; là phần của dầu nhờn không thể bị đôt thêm hoặc nung cháy .. Tro có tác hại bào mòn với động cơ .Tất nhiên không ai đưa dầu vào động cơ để đốt cá, Bị đôt cháy một phần là kết quả tất yếu của dầu khi bôi trơn cho động cơ, Nếu quá trình cháy diễn ra chưa tới mức hoàn toàn thì sản phẩm nhận được là một hỗn hợp khá phức tạp gồm phần dầu chưa cháy hết , tro ,than , phần dầu bị crăking,v.v....tất cả gọi là cặn cácbon mà theo những tài liệu của Liên xô trước đậy vẫn gọi là Cốc .
Cốc được định nghĩa là sản phẩm quá trình cháy thiếu o xi . Việc đánh giá hàm lượng cốc có tính tương đối , vì thiết bị tạo cốc là khá khác nhau, Người ta có thể tạo cốc dầu bằng việc dốt dầu trong điều kiện thiếu không khí trong một chén sứ của một thiết bị đốt gọi là “lò cốc hóa * phương pháp Conradson) và cũng có thể tạo cốc bằng cách đốt trong một ampun thủy tinh có đường khí vào rất hẹp để trong lò đốt bằng điện duy trì ở 500 OC ( Phương pháp Ramsbottom )
Nhìn tổng quát lại : khi dầu động cơ làm việc , một phần lớn dầu được duy trì để bôi trơn và một phần nhỏ bị cháy tạo ra các sản phẩm ở các mức độ cháy khác nhau gọi là cặn cacbon gồm tro và sản phẩm cháy dở dang , sản phẩm craking, than . CO2 và H2O thoát ra ngoài không khí theo đường xả khí. ,
Cặn các bon gây tác hại mài mòn, làm bẩn , keo dính trong động co .Chúng ta có thể tháy nó khi bổ máy .Người ta xácdinh cặn các bon không ở dầu thành phẩm mà ngay từ khi còn ở dạng nguyên liệu đầu vào-dầu gốc để chế dầu động cơ sao cho tạo ra sản phẩm tốt nếu bị cháy thì sẽ không tạo ra nhiều cặn các bon .
Tro sunfat
Để xác định tro người ta phải đốt và nung sản phẩm ở trên 700OC ,Trong diều kiện này một số oxit kiểu oxit kẽm có thể bay hơi gây thất thoát sai lệch đến kết quả thí nghiệm
Do đó người ta cần chuyển chúng sang dạng ổn định hơn đó là dạng sunfat ,Cần sul fat hóa tro, khi này ta có tro sụlfat .
Việc đánh giá hàm lượng tro và tro sul fat có ý nghĩa để đánh giá lượng chất vô cơ trong dầu bị nhiễm trong quá trình bôi trơn ( Ví dụ kim loại bị mài mòn lẫn vào dầu) và đánh giá phân kim loại của chất cơ-kim dùng làm phụ gia mà có .
Qua xác định tro có thể phát hiện ra dầu thật ( có phụ gia) và dầu giả ( không có phụ gia ) cũng như để nghiên cứu hàm lượng phụ gia bị biến đổi theo thời gian sử dụng dầu .

8. Độ kiềm và a xit

Để dánh giá môi trường một chất người ta đo độ pH của chúng , Những chất có pH-7 đươch gọi là chất trung tính . Những chất có pH>7 là những chất kiềm . Những chất có pH<7 là những chất a xit

Muốn đánh giá về lượng người ta thông qua các chỉ số : chỉ số axit-TAN và chỉ số kiềm -TBN

Thông thường dầu sản xuất ra là trung tính kể vả các dầu tinh chế bằng a xít hoăc kiềm đi nữa đều phải trung hòa mới đi đến sản phẩm lưu hành , Các dầu động cơ hiện đại có pha thêm phụ gia mang tính chất kiềm nên có tính kiêm ,Chỉ số kiềm dầu động cơ thoong thường cỡ 4-10 mg KOH,g dậuong khi đó dầu động cơ hàng hải có chỉ số kiềm rất cao tới cỡ vài chục.

Các a xit và kiềm vô cơ

Các kiềm và a xít vô cơ là chất ăn mòn mạnh , rất có hại khi sử dụng dầu , chúng khó tan trong dâu nhưng rất dễ tan trong nước . Không có ai điên rồ mà tìm cách pha chúng vào dầu cả .Chúng có thể có trong dầu khi sự trung hòa trong quá trình làm sạch có thiếu sót và khi có sự cố tình phá hoại Có thể phát hiện dễ dàng kiềm hoặc a xit vô cơ bởi vì chúng khác với a xit và kiềm hữu cơ ở chỗ dễ dàng tan trong nước do đó dễ dàng lấy ra bằng nước nên chỉ cần xóc mạnh dầu nhờn với nước trung tính rồi đem kiểm tra phần nước tách ra với chất chỉ thị là phát hiên ra dầu đó có kiềm hoặc a xít vô cơ hay không,

Dầu nhờn cũng như các chất hữu cơ nói chung có ehất trung tính có chất mang tính kiềm có chất mang tính a xit . . .

Khj định xác định chỉ số kiệm và chỉ số axit ở các phương pháp khác nhau , ở các nước khác nhau có cho những kết quả rất chênh lệch , Nguyên nhân chủ yếu là vấn đề điểm dừng khi chuẩn độ .

-Theo phương pháp Nga- GOST thì chất chỉ thị được dùng là nitrazin vàng có bước chuyển mầu là ở pH= 6.0-7,0 rất gần với 7

-Theo phương phán của Mỹ ASTM D 974 lại dùng chỉ thị metyl da cam với bước chuyển mầu ở pH=4,2-4,4

Trong quá trình oxi hóa dầu sẽ tạo ra những axit hứu cơ . Điều này được nhận thấy ở chỉ số a xít tăng lên hoặc ở chỉ số kiềm giảm xuống ,

Trong khi xác định TAN có khi nhận được giá trị khá lớn nhưng không nên kết luận võ đoán về vấn đề ăn mòn vì khi chuẩn độ có thể tạo ra những môi trường có tính chất đệm làm cho pH rất khó biến đổi mặc dù tốn phí khá nhiều hóa chật
Điều hiển nhiên là các dầu động cơ mang phụ gia kiêm tính phải có độ TBN lớn .Đặc điểm này cho chúng ta dễ dàng phân biệt giữa dầu thật và dầu giả ,
Chất kiềm trong phụ gia mang kiềm tính không dễ gây ăn mòn tới các kim loại của động cơ,

9. Cặn pen tan cặn Tôluen

Trong quá trình sử dung, dầu sinh ra cặn bẩn . Cặn pen tan,cặn toluen,cặn đông tụ là những thuật ngữ khác nhau người ta dùng khi nghiên cứu cặn bẩn,

Khi bôi trơn bằng dầu nhờn có hai nhóm quá trình xảy ra :

-Nhóm thứ nhất là dầu bị biến chất có thể bị o xi hóa , bị cháy , bị craking v.v...theo các mức độ khác nhau

-Nhóm quá trình thứ hai là dầu bị nhiễm bẳn do ăn mòn, mài mòn , do chất bản từ bên ngoài đưa vào,

Sản phẩm của hai nhóm quá trình này là những cặn bẩn vô cơ và cặn bẩn hữu cơ,

Để đánh giá mức độ nhiễm bẩn và phân biệt sự diễn biến tạo cặn bẩn hai quá trình này người ta tiến hành xác định cặn pen tan và cặn tôluen

Cặn pen tan

Pentan là một hydro cacbon mạch thẳng khi đưa vào mẫu dầu nó sẽ có tác dụng làm kết tủa các chất bẩn ra khỏi dầu . Chất bẩn tìm ra được như vậy gọi là cặn pentan.

Cặn pen tan trước hết cho ta đánh giá về sự nhiễm bẩn và biến chất của dầu;

Làm thế nào để phân biệt được phần cặn bẩn do dầu bị biến chất sinh ra với chất cặn bẩn nói chung, Bí quyết là ở chỗ các căn bẩn do biến đổi chất là những căn hữu cơ, tan được trong toluen. Vì thế khi cho toluen tiếp xúc với cặn pentan ta làm hóa tan và trích li di phần hữu cơ của nó , phần còn lại đó là phần cặn bẳn vô cơ mà ta gọi với trường hợp này là cặn toluen ;

Chất không tan trong toluen - các tạp chất vô cơ bao gồm các tạp chất nhiễm bẩn bên ngoài , là cacbon của nhiên liệu ,của dầu nhờn,của phụ gia khi bị cháy sinh ra ,là các chất bẩn tạo ra do ăn nòn ( gỉ) và mài mòn ( các mạt kim loai)

Trong dầu động cơ , người ta thường sử dụng các chất phu gia phân tán làm cho cặn bẩn đã sinh ra, tuy không tan nhưng không thể tách ra đươc mà lơ lửng trong dầu làm cho thí nghiệm không tiến hành được .

Trong trường hợp này người ta phải sử dụng chất đông tụ thì mới tách được chất bẩn ra Dùng chất động tụ kết hợp với pen tan để xác định cặn bẩn được gọi là cặn pen tan -dông tụ ,

Sau khi thu được cặn pen tan -đông tụ thì người ta cúng dùng toluen để phân biệt phần hữu cơ với phần cặn vô cơ như dã làm ở trên..

10. Xác định khả năng oxi hóa

Khi bị o xi hóa các hợp chất có tính a xít và các chất nhựa hình thành

Có thể kiểm tra TAN.và hàm lượng nhựa để đánh giá tính chất bị o xi hóa của dầu,

Để xúc tiến quá trình oxi hóa ngưới ta liện tục đưa dòng oxi vào bình phản ứng, nâng nhiệt độ thí nghiệm và sử dụng xúc tác là đồng .Sau những thời gian nhất định người ta kiểm tra trị số a xít và hàm lượng nhựa hình thành để đánh giá mức độ oxi hóa.

Tính chất oxi hóa đặc biệt quan trọng đối với các dầu như dầu biến thế , dầu tuyếc bin

11. Tính tạo bọt :

Tính tạo bọt là khả năng dầu tạo thành bọt khi khuấy trộn mạnh nó với không khí , Dầu tạo bọt tất nhiên khả năng bôi trơn của nó bị giảm xuông

Người ta sử dụng phụ gia để chống tạo bọt , phụ gia này không dễ dàng tan trong dầu ,có khuynh hướng tách dần ra khi dầu được để yên. Trong quá trình làm việc ,dầu nhờn bị khuấy trộn ;các phụ gia chống tạo bọt bị tách ra lại được phân tán trở lại và phát huy hiệu quả tác dụng làm giảm sức căng bề mặt của bọt dầu, làm cho bọt vỡ ra mau chóng

Ở những nhiệt độ khác nhau thì khả năng tạo bọt khác nhau ;dầu đã được khuấy trộn thì tính chống tạo bọt được cải thiện.

Để mô phỏng những điều đó người ta chia làm 3 thí nghiệm khác nhau:

-Đo sự tạo bọt ở 24O C

-Đo sự tạo bọt ở 93,5O C

-Đo sự tạo bọt ở 24O C ngay đối với mẫu vừa đo sự tạo bọt ở 93,5O C được để nguội trở lại

Ở thí nghiệm thứ ba ,mẫu dã dượ khuấy trộn bằng cách thổi hơi ở nhiệt độ cao và thời gian , lưu lượng qui định

Các đâu bánh răng chạy ở tốc độ cao,dâu bôi trơn động cơ và dầu dùng cho máy bơm có lưu lượng lớn dễ tạo bọt nên cần khảo sát tính tạo bọt và dùng phụ gia chống bọt .

12. Thí nghiệm tạo nhũ :

Nhũ có thể sinh ra khi dầu gặp nước. Trường hợp này xảy ra đối với dầu tuabin và dầu xi lanh .

Người ta có nhiều cách thí nghiệm khác nhau để khảo sát sự tạo nhũ và phá nhũ của dầu : hoặc làm cho dầu bị nhũ với luồng hơi nước đun sôi hoặc làm cho dầu bị nhũ khi khuấy mạnh dầu với nước ,

Thí nghiệm về nhũ nhằm tìm ra nguyên liệu và phụ gia có tính chống tạo nhũ cao nhằm sản xuất ra dâu có thời gian sử dụng dài .

12. Kim loại
Trong dầu thô chỉ có một lượng rất nhỏ kim loại , Không phải dễ dàng đưa được kim loại vào các sản phẩm dầu mỏ bởi vì dầu mỏ là các chất hữu cơ. Nói một cách cụ thể là không thể có sát, nhôm, kẽm , chì, man gan trong xăng dầu nếu dùng vật chứa xăng dầu làm từ các kim loại và hơp kim kể trên.   Không đơn giản trong xăng có chì ,có Man gan là do cho chì, mangan tiếp xúc với xăng ,Con đường để đưa kim loại vào sản phẩm dầu mỏ là tạo ra các hơp chất cơ- kim nghĩa là tạo ra các hợp chất hưu cơ có kim loại, Chỉ có các hợp chất cơ-kim là hòa tan được trong sản phẩm dầu mỏ mà thôi .Cho đến ngày nay khi thế giới từ bỏ xăng chì thì nước ta cũng chưa thể sản xuất ra một giọt xăng có chì vì chúng ta chưa có một phòng thí nghiệm nào tổng hợp được dù là 1 miligam Tetraetyl chì nghĩa là chúng ta lạc hậu so với họ hàng thế kỷ .

Trong dầu nhờn động cơ hiện nay có các kim loại như Ba,Ca, Fe,Zn ....là chuyện thường tình , Chúng có mặt là do chúng ta sử dụng phụ gia . mà các phụ gia đó là những hợp chất cơ - kim . Vậy khi kiểm tra hàm lượng cac kim loại này là ta đã kiểm tra các phụ gia trong dầu . Trong các xưởng để có thể pha chế dầu chính xác theo đơn cho sẵn ngưởi ta phải kiểm tra hàm lượng kim loại thông qua các phương pháp hóa học như chuẩn độ phức và các phương pháp vật lý như dùng quang phổ hấp thụ nguyên tử-AAS. Phương pháp AAS đã chỉ ra rất thích hợp với kiểm tra khi sản xuất và khi quản lý sản phẩm lưu hành vì nó rất nhanh và nhậy lại có độ chính xác chấp nhận được. Những dầu rởm không có phụ gia bị phát hiện nhanh chóng khi kiểm tra AAS .

13. Nhiêt độ đông đặc ; Ở điều kiện lạnh , kiểm tra điểm đông đặc của dầu là cần thiết . Dầu nhờn không thể bôi trơn được nếu nó bị đông đặc , Trong điều kiện nước ta trừ dầu dùng cho máy lạnh và dầu hàng không thì việc đo nhiệt độ đông đặc của dầu nói chung là không cần lắm .

14. Điện áp đánh thủng hoặc tang của góc tổn thất điện môi

Chỉ tiêu này ở trong phần cuối bài viết không phải vì nó kém quan trọng mà vì nó đòi hỏi cho số ít dầu đặc biệt đó là dầu biến thế , Tinh cách điện của dầu thể hiện qua chỉ tiêu vật lý : điện áp đánh thủng hoặc tang của góc tổn thất điện môi là rất quan trọng đối với dầu biến thế, Để cải thiện chỉ tiêu kể trên . người ta cũng dùng phụ gia : chất PCB , Trong một thời gian rất dài cỡ vài chụ năm, PCB tưởng chừng vô hại . Hiện nay nó được xem như một tác nhân gây ô nhiễm môi trường rất đáng quan ngại . Cho nên thế giới ngày nay thật là phức tạp , Chỉ có những điều ta chưa biết và chưa hiểu rõ mà thôi !

Trình bày các tính chất lý hóa của sản phẩm dầu mỏ để nói rằng mỗi một chỉ tiêu đêu có ý nghĩa thực dụng của nó trong sản xuất, sử dụng ,bảo quản, trong trao đổi hàng hóa, Từng chỉ tiêu quan trọng đối với dầu này lại có thể bỏ qua đối với dầu khác.

Điều rõ ràng là chúng ta cần hiểu đúng giá trị của chúng trong thực tế như thế nào mà thôi.

Công ty Huy Phát

tập trung phát triển những mặt hàng tiềm năng đang được khách hàng ưa chuộng như dầu thuỷ lực H32, H46, H68, dầu công nghiệp CN10, CN22, CN32, CN46, CN 68, CN100, Dầu gia công kim loại KL, Dầu bánh rãng HP-90EP, HP-140EP, Mỡ bôi trơn các loại...